Monday, February 8, 2016

ĐẠI CƯƠNG GIẢI PHẪU TIM: QUAN HỆ GIỮA CÁC BUỒNG TIM VÀ MẠCH MÁU LỚN - NHĨ PHẢI VÀ VAN 3 LÁ

Tim có hình kim tự tháp 3 mặt (three-sided pyramid) và hai bờ, nằm trong trung thất giữa. Ba mặt của tim gồm mặt ức (sternal surface), mặt sườn (costal surface) và mặt hoành (diaphragmatic surface), hai bờ của tim là bờ sắc (acute margin) nằm phía phải và bờ tù (obtuse margin) nằm phía trái. 1/3 tim nằm bên phải đường giữa, 2/3 tim nằm bên trái đường giữa.

Hình 1: Giới hạn của tim trong lồng ngực

Hình 2: Các mặt và các bờ của tim

1. Quan hệ giữa các buồng tim và các mạch máu lớn:

Liên hệ giữa các buồng tim và các mạch máu lớn thể hiện rõ ở mặt cắt trục ngang (short axis) qua gốc động mạch chủ. Trên mặt cắt này, có thể thấy van 3 lá và van động mạch phổi nằm hoàn toàn tách biệt nhau. Ngược lại, van 2 lá và van động mạch chủ nằm sát nhau, liên quan chặt chẽ và liên tục với nhau qua cấu trúc sợi (fibrous continuity). 

Hình 3: Mặt cắt trục ngang qua gốc động mạch chủ

Mặt cắt này cho thấy các điểm chính sau:

- Các buồng nhĩ nằm về phía phải so với các buồng thất tương ứng.

- Tim phải nằm về phía trước so với tim trái. Vì vậy vách liên thất là một cấu trúc nằm chéo (oblique).

- Van động mạch chủ nằm ở vị trí trung tâm, dính với van 2 lá và van 3 lá ở phía sau, vì vậy van động mạch chủ có liên quan đến tất cả các buồng tim.

- Vùng cấu trúc dính nhau giữa van 2 lá, van động mạch chủ và van 3 lá được gọi là thể sợi trung tâm (central fibrous body). Thể sợi trung tâm được tạo nên bởi 1 phần tam giác sợi bên phải (right trigone) và một phần vách liên thất phần màng (membranous ventricular septum). Nút nhĩ thất và bó His đi qua cấu trúc này đề đi vào tâm thất.

Hình 4: Liên quan giữa tam giác sợi phải và vách liên thất phần màng, tạo nên thể sợi trung tâm, là nơi nút nhĩ thất và bó His đi qua

Trong thực tế, van 3 lá đóng thấp hơn về phía mỏm tim so với van 2 lá, vì vậy, một phần vách ngăn sẽ phân cách nhĩ phải và thất trái, gọi là vách nhĩ – thất (atrioventricular septum). Dị tật thông thương của phần vách này được gọi là dị tật Gerbode (Gerbode defect).

Hình 5: Vách nhĩ thất hình thành do van 3 lá đóng thấp hơn van 2 lá

Hình 6: Dị tật Gerbode
2. Nhĩ phải và van 3 lá:

2.1. Các phần của nhĩ phải:

Nhĩ phải bao gồm 3 phần: Phần tiểu nhĩ (appendage), phần tiền đình (vestibule) và phần tĩnh mạch (venous). Nhìn từ bên ngoài, nhĩ phải được chia thành tiểu nhĩ và phần tĩnh mạch, nối với nhau qua rãnh tận cùng (terminal groove). Rãnh tận cùng tương ứng phía bên trong là mào tận cùng (terminal crest). Đặc điểm quan trọng và hằng định của nhĩ phải là các dải cơ bè (pectinate muscles) kéo dài từ tiểu nhĩ phải đến toàn bộ bờ của rãnh nhĩ thất, ở phía dưới các dải cơ bè này ngưng ở mào tận cùng. 

Phần tiền đình là phần cơ nhĩ trơn láng (smooth-wall atrial myocardium) nối với các lá van 3 lá.
Phần tĩnh mạch giới hạn từ mào tận cùng đến rãnh liên nhĩ phía dưới.

Hình 7: Cấu trúc của nhĩ phải

2.2. Nút xoang:

Nút xoang có màu vàng nhạt, nằm phía trước và trên rãnh tận cùng, về phía phải chỗ nối của tĩnh mạch chủ trên (Superior vena cava) vào nhĩ phải. Trong 10% các trường hợp, nút xoang có hình móng ngựa bao quanh chỗ nối TM chủ trên – nhĩ phải.

Động mạch nuôi nút xoang xuất phát từ ĐM vành phải (RCA) trong 55% trường hợp, 45% xuất phát từ động mạch mũ (LCx). Động mạch nút xoang chạy dọc bờ trước rãnh liên nhĩ về phía chỗ nối TM chủ trên – nhĩ phải.

Hình 8: Nút xoang bình thường và nút xoang dạng móng ngựa

2.3. Vách liên nhĩ:

Đường mở nhĩ phải phổ biến nhất là đường mở từ tiểu nhĩ, chạy song song phía trước rãnh tận cùng. Khi khảo sát vách liên nhĩ qua đường mở này, vách liên nhĩ “có vẻ” là phần trải dài từ lỗ van 3 lá đến các lỗ của tĩnh mạch chủ trên và dưới. Trong thực tế, vách liên nhĩ thực sự là phần được giới hạn bởi hố bầu dục (fossa ovale) (xin xem thêm về phôi thai học vách liên nhĩ). Phía trên viền hố bầu dục là phần gấp nếp giữa phần tĩnh mạch của nhĩ phải và các tĩnh mạch phổi phải (đổ về nhĩ trái). Phía dưới hố bầu dục là phần vách xoang (sinus septum) ngăn cách lỗ tĩnh mạch chủ dưới và lỗ xoang vành.

Vì vậy, nếu muốn mở nhĩ trái qua vách liên nhĩ, đường mở phải nằm trong hố bầu dục, tức là vách liên nhĩ thật sự.

Hình 9: Vách liên nhĩ thực sự là hố bầu dục, vách liên nhĩ "giả" hình thành từ nếp gấp phía trên (superior folding) và vách tĩnh mạch phía dưới


2.4. Nút nhĩ thất và tam giác Koch:

Tam giác Koch nằm trong nhĩ phải, được giới hạn bởi cân Torado (tendon of Torado), lá vách van 3 lá và lỗ xoang vành. Cân Torado là cấu trúc sợi tạo thành từ sự hòa nhập của van eustachi (eustachian valve) của TMC dưới và van thebesi (thebesian valve) của xoang vành. Toàn bộ cấu trúc của nút nhĩ thất nằm bên trong của tam giác Koch, bó His đi qua đỉnh của tam giác Koch trước khi chia nhánh ở mào vách liên thất.

Hình 10: Tam giác Koch và mối liên quan với nút nhĩ thất và bó His. Xin xem thêm hình 7

2.5. Van 3 lá:

Van 3 lá gồm các lá van sau: Lá vách (septal leaflet), lá trước (anterior leaflet) và lá sau (posterior leaflet). Các lá van này dính với nhau tại các mép van (commissure). Dây chằng của mép van trước vách (anteroseptal commissure) xuất phát từ cơ nhú trong (medial papillary muscle). Hai lá van lớn của van 3 lá là lá trước và lá vách xuất phát từ mép van này. 

Van 3 lá không có vòng sợi thực sự như van 2 lá mà hình thành từ sự gấp nếp của rãnh nhĩ thất. Vì vậy, toàn bộ phần phía trước của van 3 lá liên quan chặt chẽ với động mạch vành phải chạy trong rãnh nhĩ thất phải.

Hình 11: Cấu trúc của van 3 lá

Tài liệu tham khảo:

1. Anatomy, Dimensions, and Terminology, Kirk.lin/Barratt-Boyes Cardiac Surgery, 4th ed., Elsevier 2013.

2. Carpentier's reconstructive valve surgery, 1 ed., Saunders 2010.

3. Surgical anatomy of the heart, Cardiac Sugery in the A.du.lt, 4th ed, Mc.Graw.Hill 2013

BS. VÕ TUẤN ANH











Phẫu thuật đóng lỗ thông liên thất

1. Đường phẫu thuật:

Tất cả các dạng thông liên thất đều được sửa chữa qua đường mở ngực giữa xương ức


Hình 1: Đường mở giữa xương ức.

Chạy máy tim phổi nhân tạo có hạ thân nhiệt trung bình (30 – 32 oC). Đặt Cannula động mạch vào động mạch chủ ngực lên, cannula tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới riêng biệt. Đặt dây tape quanh mỗi tĩnh mạch để làm khô phẫu trường.

Hình 2: Thiết lập hệ thống tim phổi nhân tạo

* Bảo vệ cơ tim: Ngưng tim và bảo vệ cơ tim bằng dung dịch liệt tim pha máu lạnh 4oC qua gốc động mạch chủ.

2. Vá thông liên thất qua đường mở nhĩ phải:

Gần như tất cả các trường hợp thông liên thất phần màng và thông liên thất phần buồng nhận (AV canal) được thực hiện thông qua đường mở nhĩ phải. Thông liên thất thể dưới động mạch được đóng qua đường mở động mạch phổi hoặc đường mở thất phải.

Sau khi thiết lập hoàn chỉnh hệ thống, bắt đầu chạy máy tim phổi nhân tạo đủ lưu lượng.Kẹp ngang động mạch chủ, chạy dung dịch liệt tim qua gốc động mạch chủ. Siết các dây tape quanh 2 tĩnh mạch chủ. Đường mở nhĩ phải bắt đầu khoảng 0.5 – 1cm phía trước rãnh tận cùng, mở nhĩ phải song song với rãnh tận cùng về phía lỗ tĩnh mạch chủ dưới. 

Hình 3: Đường mở nhĩ (P)

Dùng dụng cụ kéo hoặc đặt các mũi chỉ treo để bộc lộ van 3 lá và tam giác Koch.

Vật liệu sử dụng: Tốt nhất là sử dụng Dacron velour, ưu điểm mềm, mỏng, kích thích tăng trưởng mô sợi để che lấp toàn bộ những lỗ tồn lưu nhỏ trong giai đoạn hậu phẫu. Khuyết điểm: Giá thành cao.

Ngoài ra có thể sử dụng màng tim tự thân xử lý bằng Glutaraldehyde.

2.1 Kỹ thuật vá thông liên thất:

Kéo lá trước van 3 lá bằng chỉ Prolene 5.0 – 6.0 hoặc sử dụng dụng cụ kéo để bộc lộ lỗ thông liên thất và bờ của nó. Có thể đóng thông liên thất bằng mũi liên tục với Prolene 5.0 hoặc bằng các mũi chữ U rời bằng chỉ đa sợi 4.0 – 5.0 có đệm.

Chuẩn bị vật liệu: Miếng vá Dacron hoặc màng tim cần được cắt hơi rộng hơn kích thước lỗ thông.

Dùng chỉ Prolene 5.0 (tuỳ thuộc cân nặng bệnh nhân và thói quen PTV), 2 kim, kim 1/2 vòng tròn (tuỳ thuộc thói quen của PTV).

Bắt đầu ở vị trí 12 giờ của lỗ thông, tiếp tục đi kim qua miếng Dacron /màng tim. Cột chỉ và hạ miếng Dacron/màng tim vào vị trí của lỗ thông. Tiếp tục khâu ngược chiều kim đồng hồ ở bờ trên lỗ thông đến lúc gặp trung tâm sợi nối vách liên thất, gốc động mạch chủ và van 3 lá với nhau. Lúc này đưa kim qua vòng van của lá vách van 3 lá.

Hình 5: Vá thông liên thất bằng mũi liên tục, bắt đầu từ vị trí 12 giờ.

* Lưu ý: Van động mạch chủ nằm ngay dưới bờ trên của lỗ thông liên thất nên có thể bị tổn thương nếu đặt chỉ quá sâu gây hở chủ sau mổ.

Hình 6: Tổn thương van động mạch chủ khi vá thông liên thất

Vùng sợi nối giữa vách liên thất, gốc động mạch chủ và van 3 lá là vùng dễ xảy ra thông liên thất tồn lưu. Vì vậy, mũi khâu phải bao gồm 3 thành phần: Vòng van 3 lá, miếng vá và bờ lỗ thông liên thất để đảm bảo độ chắc chắn.

Sau đó, dùng mũi kim còn lại đi theo chiều kim đồng hồ, có hai cách đi:

- Đi nông, chỉ lấy nội mạc dọc theo bờ dưới cho đến khi gặp vòng van 3 lá.

- Đi cách bờ thông liên thất ít nhất 3 – 5 mm để tránh mô dẫn truyền đi ngay sát bờ dưới của lỗ thông liên thất. Cách thức này an toàn hơn và cũng đảm bảo miếng vá chắc chắn hơn.

Hình 7: Hai cách vá thông liên thất.
Trái: Vá thông liên thất bằng mũi kim nông qua nội mạc. 
Phải: Đi cách bờ thông liên thất từ 3 - 5mm.

- Chỉ vá thông liên thất có thể làm tổn thương lá vách van 3 lá, vì vậy, có thể tăng cường thêm ở phần này bằng 1 miếng màng tim tự thân hoặc sử dụng các mũi chỉ rời có đệm.


Hình 8: Tăng cường vòng van 3 lá bằng màng tim tự thân

- Trong trường hợp lỗ thông liên thất bị van 3 lá và các dây chằng che lấp, ta có thể tách lá vách và 1 phần lá trước van 3 lá để dễ bộc lộ lỗ thông, giúp cho việc thao tác dễ dàng hơn. Sau khi đóng lỗ thông, khâu lá van 3 lá vào vòng van bằng chỉ Prolene 6.0 – 7.0.


Hình 9: Mở lá vách và một phần lá trước van 3 lá để vá thông liên thất, sau đó đóng lại
 bằng mũi liên tục.
Hình 10: Vá thông liên thất bằng mũi rời có đệm

3. Vá thông liên thất qua đường mở động mạch phổi:

Chỉ định cho các trường hợp thông liên thất phần buồng tống, thể dưới van động mạch chủ hoặc dưới van động mạch phổi.

Mở động mạch phổi theo chiều ngang (transverse) ngay trên các mép van (commissure), hoặc mở dọc động mạch phổi đến giữa bụng của lá trước van động mạch phổi (tuỳ thuộc thói quen PTV). Dùng dụng cụ kéo van để bộc lộ lỗ thông liên thất. Chạy dung dịch liệt tim qua gốc động mạch chủ để đánh giá mức độ sa và độ hở của van động mạch chủ. Nếu có hở chủ nặng, cần sửa van động mạch chủ trước khi đóng thông liên thất. Nếu lỗ thông đủ lớn, có thể thấy được van động mạch chủ nằm sau lỗ thông.

Hình 11: Đường mở ngang động mạch phổi

Đóng lỗ thông liên thất bằng chỉ Prolene 5.0 có 2 kim với vật liệu là Dacron velour hoặc màng tim tự thân. Bắt đầu từ bờ trên của lỗ thông liên thất., vị trí này cần khâu vào vòng van động mạch phổi để gia cố thêm đường khâu bằng các mũi chữ U. Tiếp tục mũi chữ U cho đến khi bờ của thông liên thất tách rời với vòng van động mạch phổi. Nếu mô van động mạch phổi dễ rách, có thể tăng cường thêm bằng vòng van động mạch phổi. Tiếp tục đi cho đến khi hết lỗ thông liên thất bằng 2 kim.

Hình 12: Đặt chỉ vào vòng van động mạch phổi và bờ thông liên thất ở bờ trên thông liên thất
Hình 13: Dùng mũi chữ U đi dọc theo bờ lỗ thông liên thất cho đến khi bờ lỗ thông tách rời khỏi van động mạch phổi.

Hình 14: Cách thứ 2: Đặt chỉ rời mũi chữ U dọc theo bờ thông liên thất đến khi bờ lỗ thông tách rời khỏi van động mạch phổi.

Đóng động mạch phổi bằng Prolene 5.0 – 6.0 mũi liên tục.

* Lưu ý: Van động mạch chủ nằm sát bờ trên của lỗ thông liên thất, vì vậy khi đặt chỉ ở vùng này tránh đặt chỉ quá sau làm tổn thương van động mạch chủ.

Tài liệu tham khảo:

1. Anderson R.H, Ventricular septal defect, Surgery for congenital heart defects, 3rd ed.

2. Khonsari S., Ventricular septal defect, Cardiac Surgery - Safeguards and pitfalls in Operative Techniques, 4th ed.

3. Jonas R.A, Ventricular septal defect, Comprehensive Surgical Management of Congenital Heart Disease, 1st ed.

BS. VÕ TUẤN ANH

















Friday, February 5, 2016

Phẫu thuật tim, những điều thú vị

Phẫu thuật tim, những điều thú vị

Trước đây người ta nhận thấy rất khó thực hiện các thao tác chính xác trên một bộ phận chuyển động liên tục và không thể ngưng tim trong thời gian dài mà không làm tổn thương não.

Kể từ ca phẫu thuật tim hở có sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể được thực hiện bởi BS Clarence W. Leillehei và BS John Lewis tại Minnesota tháng 9/1952, ngành phẫu thuật tim mạch đã có những bước phát triển rất nhanh. Tại Mỹ, mỗi ngày có hàng ngàn ca mổ tim được thực hiện. Theo con số thống kê chính thức, chỉ năm 2009, các nhà phẫu thuật tim mạch đã thực hiện 416.000 trường hợp bắc cầu động mạch vành. Trong năm 2010, dù thiếu nguồn tạng, cũng đã có 2.300 trường hợp ghép tim được phẫu thuật thành công.

Một trong những ca phẫu thuật tim đầu tiên. Ảnh: BS Blalock thực hiện phẫu thuật nổi tiếng BT Shunt

Trong những năm đầu tiên của thế kỷ trước, nhiều nhà phẫu thuật cho rằng phẫu thuật tim gần như không thực hiện được. Người ta nhận thấy rằng rất khó thực hiện các thao tác chính xác trên một bộ phận chuyển động liên tục. Bên cạnh đó, không thể ngưng tim trong thời gian dài mà không làm tổn thương não.
Cùng với sự phát triển của y học, có hai bước tiến quan trọng đã góp phần làm cho phẫu thuật tim từ chỗ rất khó khăn trở nên một trong những phẫu thuật được thực hiện phổ biến ngày nay trên toàn thế giới. Đó là máy tuần hoàn ngoài cơ thể, còn gọi là máy tim phổi nhân tạo và kỹ thuật hạ thân nhiệt, giúp kéo dài thời gian phẫu thuật mà không gây ra tổn thương não.
Máy tuần hoàn ngoài cơ thể là gì?
Máy tuần hoàn ngoài cơ thể hay máy tim phổi nhân tạo thay thế công việc của tim bằng cách cung cấp oxy cho máu và bơm máu đi nuôi cơ thể. Như vậy, khi máy vận hành, tim có thể ngưng đập và được mở ra để thực hiện các phẫu thuật bên trong (phẫu thuật tim hở). Nhờ máy tim phổi nhân tạo, các nhà phẫu thuật tim có thể thao tác trên một vùng mổ tĩnh và không có máu.
Khi bệnh nhân được kết nối với máy tuần hoàn ngoài cơ thể, máy sẽ thực hiện chức năng của tim và phổi: máu được lấy từ hệ thống tĩnh mạch (chứa máu đen, nghèo oxy) về một bầu chứa bên dưới, sau đó được đưa qua một bộ phận đặc biệt để đưa oxy đến hồng cầu, chuyển thành máu đỏ (máu giàu oxy). Máu đỏ sẽ được bơm ngược trở về cơ thể để đi nuôi não và các cơ quan khác.
Máy tim phổi nhân tạo có thể hoạt động thay thế cho tim và phổi trong nhiều giờ, tuy vậy, vẫn có nhiều nguy cơ khi vận hành. Vì thế, các phẫu thuật viên luôn cố gắng giới hạn tối đa thời gian bệnh nhân.
Máy tim phổi nhân tạo đang vận hành
Hạ thân nhiệt là gì?
Hạ thân nhiệt giúp nhà phẫu thuật có thể kéo dài thời gian ngừng tim mà vẫn không gây tổn thương cho cơ tim. Nhiệt độ thấp giúp bảo vệ cơ tim bằng cách giảm nhu cầu oxy của tim. Thân nhiệt có thể được hạ bằng cách làm lạnh máu đi qua máy tuần hoàn ngoài cơ thể, sau đó máu này sẽ đến các cơ quan và làm giảm nhiệt độ của chúng. Bên cạnh đó, tim còn được làm lạnh thêm bằng cách sử dụng nước đá trực tiếp trên bề mặt của tim khi mổ.
Khi hạ thân nhiệt và được bảo vệ bằng một dung dịch đặc biệt, mô cơ tim có thể tránh tổn thương trong khoảng thời gian 2-4 giờ.
Trong suốt quá trình phẫu thuật, một đội ngũ được đào tạo bài bản làm việc chung với nhau trong tinh thần thống nhất cao, bao gồm:
- Nhà phẫu thuật tim: Là người lãnh đạo của nhóm và là người trực tiếp thực hiện các khâu chính của phẫu thuật.
- Bác sĩ gây mê tim mạch và kỹ thuật viên gây mê: Là người giúp bệnh nhân ngủ yên và đảm bảo sự ổn định của bệnh nhân trong suốt quá trình phẫu thuật.
- Bác sĩ vận hành máy tim phổi nhân tạo và kỹ thuật viên vận hành máy: Là người trực tiếp vận hành máy tuần hoàn ngoài cơ thể, đảm bảo máy thay thế tốt chức năng của tim và phổi.
- Các điều dưỡng dụng cụ: Là những người được đào tạo để giúp các nhà phẫu thuật tim trong việc thực hiện phẫu thuật.
                           
Phẫu thuật tim là một phẫu thuật phức tạp, tuy ra đời trễ nhưng có những bước phát triển mạnh mẽ. Đây là loại phẫu thuật đòi hỏi tinh thần làm việc nhóm cao độ cùng với một quá trình đào tạo bài bản và kỹ lưỡng nhằm đảm bảo chất lượng phẫu thuật tốt nhất cho người bệnh.
BS Võ Tuấn Anh - BS Nguyễn Hoàng Định





Những điều cần biết về rối loạn lipid máu

Những điều cần biết về rối loạn lipid máu

Thống kê của Viện Dinh dưỡng cho thấy hơn 29% người Việt trưởng thành bị rối loạn mỡ máu (rối loạn lipid máu), trong đó tỷ lệ này ở dân thành thị lên tới 44,3%.

Xuất hiện âm thầm, không có triệu chứng cảnh báo rõ ràng nhưng khi biểu hiện, rối loạn mỡ máu gây các  bệnh lý ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và có thể dẫn đến tử vong nhanh.
Tại Mỹ, khoảng 33,6 triệu người trên 20 tuổi có nồng độ cholesterol trong máu cao hơn bình thường, chiếm 15% dân số. Tại Anh, số người rối loạn mỡ máu luôn ở mức cao, với 2/3 dân số có tỷ lệ cholesterol cao hơn mức khuyến cáo. Ở Việt Nam, theo thống kê của Viện Dinh dưỡng, hơn 29% người Việt trưởng thành bị rối loạn mỡ máu, trong đó tỷ lệ này ở dân thành thị lên tới 44,3%.
Rối loạn mỡ máu diễn tiến âm thầm, không có triệu chứng cảnh báo rõ ràng nhưng lại làm tăng nguy cơ xuất hiện các bệnh lý tim mạch nguy hiểm như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim cấp, biến cố mạch vành... Chỉ riêng tại Mỹ, trung bình cứ 6 người chết thì có một người do bệnh mạch vành và cứ 18 người chết thì có một người bị tai biến mạch máu não.
Mảng xơ vữa làm hẹp lòng mạch máu

Rối loạn mỡ máu là tình trạng tăng giảm bất thường của các thành phần mỡ máu, bao gồm cholesterol, HDL, LDL và triglyceride. Lúc này, cơ thể không thể sử dụng hết lượng mỡ đưa vào, khiến các thành phần mỡ máu lắng đọng ở nhiều nơi, trong đó có thành mạch máu. Từ đây, các mảng vữa xơ dần hình thành, làm mạch máu trở nên xơ cứng, mất tính đàn hồi. Theo thời gian, các mảng vữa này sẽ trở nên dày và lớn hơn, dần dần gây hẹp lòng các mạch máu, làm giảm cung cấp máu đến các cơ quan tương ứng, trong đó quan trọng nhất là não và tim.
Các loại Lipoprotein "xấu" và "tốt"

Đôi khi mảng vữa mất ổn định và vỡ ra, làm tắc các mạch máu, dẫn đến những bệnh lý rất nguy hiểm là nhồi máu cơ tim cấp hay tai biến mạch máu não. Các mảng vữa nếu hình thành ở mạch máu ngoại biên có thể làm hẹp lòng các mạch máu này, dẫn đến thiếu máu nuôi chi mạn tính, nặng nề hơn là hoại tử chi phải cắt cụt. Vì gây ra những hậu quả hết sức nặng nề, rối loạn mỡ máu cần được điều trị sớm để ngăn ngừa tổn thương các cơ quan quan trọng trong cơ thể.
Người thừa cân, chế độ ăn uống không khoa học kết hợp lối sống ít vận động là những đối tượng nguy cơ cao của rối loạn mỡ máu. Để đo nồng độ của các thành phần mỡ máu, người ta cần lấy máu bệnh nhân làm xét nghiệm. Chỉ số cholesterol tỷ trọng thấp LDL càng cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng lớn. Ngược lại, nồng độ cholesterol tỷ trọng cao HDL càng cao thì sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Việc tầm soát mỡ máu nên khởi đầu ở nam giới trên 35 tuổi không có yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành và nam giới từ tuổi 20 có một số yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tiền căn gia đình có người bị bệnh tim mạch sớm, tiền căn gia đình có rối loạn mỡ máu, bản thân có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch (hút thuốc lá, tăng huyết áp…). Nữ giới có yếu tố nguy cơ tim mạch nên tầm soát mỡ máu từ 20 tuổi.
BS Nguyễn Hoàng Định - BS Võ Tuấn Anh


Thursday, February 4, 2016

Bệnh lý cần nghĩ đến khi đau ngực

Bệnh lý cần nghĩ đến khi đau ngực


Đau ngực là triệu chứng thường gặp và có nhiều nguyên nhân, trong đó có những bệnh lý nguy hiểm, tiến triển nhanh như: bệnh mạch vành, bóc tách động mạch chủ hay thuyên tắc động mạch phổi.

Đau ngực là một trong những triệu chứng thường gặp ở nhiều lứa tuổi. Đây có thể chỉ là biểu hiện của bệnh lý không nguy hiểm nhưng cũng có thể là chỉ điểm cho các bệnh lý tim mạch tiềm ẩn có khả năng ảnh hưởng đến cuộc sống của bệnh nhân.
Tại Mỹ, 25% dân số có triệu chứng đau ngực, ít nhất 1-2% trường hợp khám bác sĩ là vì nguyên nhân này. Mặc dù đây là triệu chứng có thể nguy hiểm nhưng có đến 77% bệnh nhân đau ngực từ chối đi khám và tầm soát các bệnh lý tim mạch.


Đau ngực có thể là dấu hiệu của nhiều bệnh lý nguy hiểm khác cần phải đến khoa cấp cứu ngay. Ảnh: Heartupdate
Đau ngực do tim và không do tim
Thông thường khi bị đau ngực, bệnh nhân nghĩ đến bệnh tim và tìm bác sĩ tim mạch để tư vấn. Trong số bệnh nhân đau ngực đến khám, có khoảng 11-39% người thực sự có bệnh lý mạch vành (bệnh lý mạch máu nuôi tim). Bên cạnh đó, 45-50% bệnh nhân đau ngực nhập khoa cấp cứu là do tim mạch, phần còn lại là do nguyên nhân khác.
Đau ngực do nguyên nhân mạch vành (mạch máu nuôi tim) có đặc điểm sau:
- Đau ngực sau xương ức (ở vùng giữa ngực), đau lan lên phía cằm và tay trái.
- Khó thở.
- Vã mồ hôi.
- Buồn nôn hoặc nôn ói.
- Ngất.
- Tim đập chậm hoặc nhanh hơn bình thường (rối loạn nhịp tim).
Bên cạnh nguyên nhân mạch vành, đau ngực còn là dấu hiệu của nhiều bệnh lý nguy hiểm khác cần phải đến khoa cấp cứu ngay:
- Bóc tách động mạch chủ ngực: Tình trạng rách thành mạch máu do nhiều nguyên nhân, trong đó phổ biến nhất là do tăng huyết áp.
- Thuyên tắc động mạch phổi: Do cục máu đông hoặc các nguyên nhân khác đi đến và làm tắc động mạch đưa máu lên phổi.
- Tràn khí màng phổi: Đau một bên ngực phải hoặc trái kèm khó thở nhiều, do  không khí xuất hiện trong khoang màng phổi làm xẹp phổi.
Trong các nguyên nhân trên, đau ngực do mạch vành hoặc do bóc tách động mạch chủ thường xuất hiện ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ tim mạch: lớn tuổi, tăng huyết áp, đái tháo đường, trong gia đình có người bị bệnh lý tim mạch…
Ở người trẻ hơn 40 tuổi, đau ngực thường do các bệnh lý ngoài tim mạch như:
- Đau cơ thành ngực.
- Herpes vùng thành ngực: Tình trạng nhiễm virus Varicella – zoster, dân gian gọi là dời leo.
- Trào ngược dạ dày - thực quản.
Vì đau ngực là một trong những triệu chứng thường gặp và có nhiều nguyên nhân, trong đó có những bệnh lý nguy hiểm, tiến triển nhanh như bệnh mạch vành, bóc tách động mạch chủ hay thuyên tắc động mạch phổi, do vậy các bệnh nhân có triệu chứng này nên đi khám và tầm soát nguyên nhân sớm để tránh tình trạng bệnh diễn tiến nặng hơn, khả năng điều trị khó khăn hơn.
BS. NGUYỄN HOÀNG ĐỊNH - BS. VÕ TUẤN ANH

Đồng phân trái với bất thường hoàn toàn tĩnh mạch hệ thống đổ về tim

Xin gửi tặng bạn đọc bài báo full text về bệnh lý đồng phân trái với bất thường hoàn toàn tĩnh mạch hệ thống đổ về tim, được xuất bản trên tạp chí Asian Annals of Cardiovascular and Thoracic Surgery. 

Xin trích dưới đây phần tóm tắt của bài báo:

We present a case of left isomerism with total anomalous systemic venous connection where the inferior vena cava was absent and all other systemic veins connected abnormally to the left atrium. The right atrium was hypoplastic with an intact atrial septum. Blood flow to the lungs was through a large ventricular septal defect. The diagnosis was made with echocardiography, angiography, and computed tomography. Complete repair was performed successfully, and the 7-year-old patient had an uneventful recovery.
Link:

http://aan.sagepub.com/content/early/2015/11/25/0218492315618507.abstract

Link full text:

http://aan.sagepub.com/cgi/reprint/0218492315618507v1.pdf?ijkey=avoXYlV4aODE4Sa&keytype=finite